|
|
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 12/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 11 tháng 12
năm 2014
|
Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14
tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009,
được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 64/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của
Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết
định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi
bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án,
quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa
án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên
phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi
chung là bản án, quyết định); hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành
viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong hoạt động thi hành án dân sự.
Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật này bao gồm:
1. Bản án, quyết định quy định tại Điều 1 của Luật
này đã có hiệu lực pháp luật:
a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;
d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của
Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam;
đ)3 Quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể
từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi
kiện tại Tòa án;
e)4 Phán quyết,
quyết định của Trọng tài thương mại;
g)5 Quyết định của
Tòa án giải quyết phá sản.
2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp
sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ
cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường
thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động
trở lại làm việc;
b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Đương sự bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án.
2. Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được
hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành.
3. Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực
hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan,
tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
5. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi
hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ
chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân
sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.
6. Có điều kiện thi hành án là trường hợp người phải thi hành án
có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua
người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
7. Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải
nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định.
8. Chi phí cưỡng chế thi hành án là các khoản chi phí do người
phải thi hành án chịu để tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp pháp
luật quy định chi phí cưỡng chế thi hành án do người được thi hành án hoặc do
ngân sách nhà nước chi trả.
9.6 Mỗi quyết
định thi hành án là một việc thi hành án.
Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan,
tổ chức và mọi công dân tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của
mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thi hành án.
Trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
1. Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó
không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi
hành án theo thỏa thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến
việc thỏa thuận về thi hành án.
2. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo
nội dung bản án, quyết định.
1. Người được thi hành án có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án,
quyết định, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
được quy định trong Luật này;
b) Được thông báo về thi hành án;
c) Thỏa thuận với người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án;
d) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản;
yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số
liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong
trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;
đ) Tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về
điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
e) Không phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án do Chấp hành
viên thực hiện;
g) Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng
Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;
h) Ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
i) Chuyển giao quyền được thi hành án cho người khác;
k) Được miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin
chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và trường hợp
khác theo quy định của Chính phủ;
l) Khiếu nại, tố cáo về thi hành án.
2. Người được thi hành án có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định;
b) Thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành
án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư
trú;
c) Chịu phí, chi phí thi hành án theo quy định của Luật này.
1. Người phải thi hành án có các quyền sau đây:
a) Tự nguyện thi hành án; thỏa thuận với người được thi hành án, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung
thi hành án; tự nguyện giao tài sản để thi hành án;
b) Tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án theo quy
định của Luật này;
c) Được thông báo về thi hành án;
d) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản;
yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số
liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong
trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;
đ) Chuyển giao nghĩa vụ thi hành án cho người khác theo quy định của
Luật này;
e) Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng
Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;
g) Được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án; được xét miễn, giảm một
phần hoặc toàn bộ chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này;
h) Khiếu nại, tố cáo về thi hành án.
2. Người phải thi hành án có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thi hành đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định;
b) Kê khai trung thực tài sản, điều kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ
tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình khi có yêu cầu của người có
thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai đó;
c) Thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành
án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư
trú;
d) Chịu chi phí thi hành án theo quy định của Luật này.
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các quyền sau đây:
a) Được thông báo, tham gia vào việc thực hiện biện pháp bảo đảm, biện
pháp cưỡng chế thi hành án mà mình có liên quan;
b) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản;
yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số
liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong
trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;
c) Khiếu nại, tố cáo về thi hành án.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ thực hiện nghiêm
chỉnh các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo
cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú.
1. Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân
sự là tiếng Việt.
Đương sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng
phải có người phiên dịch. Đương sự là người dân tộc thiểu số mà không biết
tiếng Việt thì cơ quan thi hành án dân sự phải bố trí phiên dịch.
2. Người phiên dịch phải dịch đúng nghĩa, trung
thực, khách quan, nếu cố ý dịch sai thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của
pháp luật.
1. Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án.
2. Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện
thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.
Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ
chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong
việc thi hành án.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu
cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này.
Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ
quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp
luật.
1. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát
hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan nhà nước khác trong thi
hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
2.10 Viện kiểm
sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án
dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi
hành án dân sự.
Khi kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Kiểm sát việc cấp, chuyển giao, giải thích, sửa chữa, bổ sung bản
án, quyết định của Tòa án;
b) Yêu cầu Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cấp
dưới ra quyết định về thi hành án, gửi các quyết định về thi hành án; thi hành
đúng bản án, quyết định; tự kiểm tra việc thi hành án và thông báo kết quả kiểm
tra cho Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp hồ
sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc thi hành án theo quy định của
Luật này;
c) Trực tiếp kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành
án dân sự cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức và cá nhân
có liên quan; ban hành kết luận kiểm sát khi kết thúc việc kiểm sát;
d) Tham gia phiên họp của Tòa án xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phát biểu quan điểm của Viện kiểm
sát nhân dân;
đ) Kiến nghị xem xét hành vi, quyết định liên quan đến thi hành án có
vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự cùng
cấp hoặc cấp dưới, yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm;
kiến nghị cơ quan, tổ chức liên quan có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản
lý khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn tới vi phạm pháp luật và áp dụng các
biện pháp phòng ngừa;
e) Kháng nghị hành vi, quyết định của Thủ trưởng, Chấp hành viên cơ
quan thi hành án dân sự cùng cấp, cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, thu hồi, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ
quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, chấm dứt hành vi vi
phạm pháp luật.
Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự bao gồm:
1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự:
a) Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;
b) Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Cơ quan thi hành án dân sự:
a) Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
(sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh);
b) Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện);
c) Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ
quan thi hành án cấp quân khu).
Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án
dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự.
1. Quản lý, chỉ đạo về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương, bao gồm:
a) Bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật trong
hoạt động thi hành án dân sự;
b) Chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, công
chức khác của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn;
c) Kiểm tra công tác thi hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện;
d) Tổng kết thực tiễn thi hành án dân sự; thực hiện chế độ thống kê,
báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ
quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
2. Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều
35 của Luật này.
3. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối
hợp với cơ quan Công an trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành
hình phạt tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành
hình phạt tù.
4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền
theo quy định của Luật này.
5. Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện
hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự tại địa phương theo hướng dẫn, chỉ đạo
của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
6. Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 173 của Luật này.
7.11 Báo cáo công
tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân theo quy định
của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu
cầu.
1. Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều
35 của Luật này.
2.12 Tổng kết
thực tiễn công tác thi hành án theo thẩm quyền; thực hiện chế độ thống kê, báo
cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ quan
quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản
án, quyết định khi có yêu cầu.
3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án thuộc thẩm quyền theo
quy định của Luật này.
4. Phối hợp với các cơ quan chức năng của quân khu trong việc quản lý
cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành
án cấp quân khu theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án thuộc
Bộ Quốc phòng.
5. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối
hợp với cơ quan thi hành án phạt tù trong quân đội trong việc lập hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành
án dân sự đang chấp hành hình phạt tù.
6. Giúp Tư lệnh quân khu và tương đương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
theo quy định tại khoản 1 Điều 172 của Luật này.
1. Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại
Điều 35 của Luật này.
2. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền
theo quy định của Luật này.
3. Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện
hoạt động được giao theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan thi hành án dân sự cấp
tỉnh.
4. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi
hành án theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan thi hành án dân sự
cấp tỉnh.
5. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự.
6. Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 174 của Luật này.
7.13 Báo cáo công
tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân theo quy định
của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu
cầu.”
1. Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản
án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên có ba
ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao
cấp.
2. Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành
viên.
1. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết,
có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn
thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bổ nhiệm làm Chấp hành viên.
2. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và có đủ các
điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp:
a) Có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên;
b) Đã được đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự;
c) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp.
3. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và có đủ các
điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trung cấp:
a) Có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên trung cấp.
4. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và có đủ các
điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp hành viên cao cấp:
a) Có thời gian làm Chấp hành viên trung cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên cao cấp.
5.14 Người có đủ
tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, là sỹ quan quân đội tại ngũ thì được
bổ nhiệm Chấp hành viên trong quân đội.
Tiêu chuẩn để được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung
cấp và Chấp hành viên cao cấp trong quân đội được thực hiện theo quy định tại
các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
6.15 Người đang
là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên được điều động đến công tác tại cơ
quan thi hành án dân sự, người đã từng là Chấp hành viên nhưng được bố trí làm
nhiệm vụ khác và có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì có thể được
bổ nhiệm Chấp hành viên ở ngạch tương đương không qua thi tuyển.
7.16 Trường hợp
đặc biệt do nhu cầu bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này đã có thời gian làm
công tác pháp luật từ 05 năm trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ
cấp; có 10 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành
viên trung cấp; có 15 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm
Chấp hành viên cao cấp không qua thi tuyển.
1. Chấp hành viên đương nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu
hoặc chuyển công tác đến cơ quan khác.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định miễn nhiệm Chấp hành viên
trong các trường hợp sau đây:
a) Do hoàn cảnh gia đình hoặc sức khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm
hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành viên;
b) Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp
hành viên hoặc vì lý do khác mà không còn đủ tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên.
3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục miễn nhiệm Chấp hành viên.
1. Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định
về thi hành án theo thẩm quyền.
2. Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên.
3. Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải
quyết việc thi hành án.
4. Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh
địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên
quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án.
5. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng
chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành
án.
6. Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án
theo quy định của pháp luật.
7. Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi
phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật,
xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi
phạm.
8. Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã
chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và
các khoản phải nộp khác.
9. Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định
của Chính phủ.
10. Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân
theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được
pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín.
1. Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm.
2. Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến
việc thi hành án trái pháp luật.
3. Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc thi hành án
hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án.
4. Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án.
5. Thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân
và những người sau đây:
a) Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;
b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà
ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ
hoặc chồng của Chấp hành viên;
c) Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
6. Sử dụng thẻ Chấp hành viên, trang phục, phù hiệu thi hành án, công
cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
7. Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án.
8. Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo
dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật.
1. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải là Chấp
hành viên. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự do Bộ trưởng
Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án
trong quân đội do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm, miễn nhiệm.
2. Chính phủ quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn
nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan thi hành
án trong quân đội.
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Ra quyết định về thi hành án theo thẩm quyền;
b) Quản lý, chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành
án dân sự;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp tổ chức thi hành án;
d) Yêu cầu cơ quan đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản
những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp với thực tế trong bản án, quyết định đó
để thi hành;
đ) Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật;
e) Trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát; giải quyết khiếu
nại, tố cáo về thi hành án, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến
nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên;
h) Tổ chức thực hiện chế độ báo cáo, thống kê thi hành án;
i) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có quyền điều động,
hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành
viên, công chức cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn
và những việc khác theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân
sự thuộc Bộ Tư pháp.
2. Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.
Nhà nước bảo đảm biên chế, kinh phí, trụ sở làm việc, công cụ hỗ trợ
thi hành án, ứng dụng công nghệ thông tin và phương tiện, trang thiết bị cần
thiết khác cho cơ quan thi hành án dân sự.
Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác thi hành
án dân sự được cấp trang phục, phù hiệu để sử dụng trong khi thi hành công vụ,
được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi
khác theo quy định của Chính phủ.
Khi ra bản án, quyết định, Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh,
Trọng tài thương mại phải giải thích cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong bản
án, quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu
yêu cầu thi hành án.
Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra
bản án, quyết định được quy định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự
bản án, quyết định có ghi “Để thi hành”.
1.17 Tòa án đã ra
bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c, d và g khoản 1 Điều 2 của
Luật này phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự
có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật.
2.18 Tòa án đã ra
bản án, quyết định quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật này phải chuyển
giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.
3.19 Tòa án,
Trọng tài thương mại đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải
chuyển giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau
khi ra quyết định.
4. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài
sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến việc thi
hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự,
Tòa án phải gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu
giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan.
Khi nhận bản án, quyết định do Tòa án, Trọng tài thương mại chuyển
giao, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra, vào sổ nhận bản án, quyết định.
Sổ nhận bản án, quyết định phải ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận
bản án, quyết định; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định và tên Tòa án,
Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định; tên, địa chỉ của đương sự và tài
liệu khác có liên quan.
Việc giao, nhận trực tiếp bản án, quyết định phải có chữ ký của hai
bên; trường hợp nhận được bản án, quyết định và tài liệu có liên quan bằng
đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho
Tòa án, Trọng tài thương mại đã chuyển giao biết.
1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết
định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm
được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định
của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu
thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi
hành án hoãn thi hành án.
3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại
khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng
thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không
tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.
1. Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án
bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua
bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên
quan.
Ngày yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc
trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.
2. Đơn yêu cầu phải có các nội dung sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;
b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;
c) Tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;
d) Nội dung yêu cầu thi hành án;
đ) Thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành
án, nếu có;
e) Ngày, tháng, năm làm đơn;
g) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm đơn; trường hợp là pháp nhân thì
phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân, nếu có.
3. Trường hợp người yêu cầu trực tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ
quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có các nội dung quy định tại khoản 2
Điều này, có chữ ký của người lập biên bản; biên bản này có giá trị như đơn yêu
cầu.
4. Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải
kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi
hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu.
5. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án và phải thông
báo bằng văn bản cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu
cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định
không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật
này;
b) Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành
án;
c) Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.
1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản
án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương25
nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
b) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương26
đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương27
nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;
c)28 Quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
d) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác,
cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy
thác.
2.29 Cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trên cùng địa bàn;
b) Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao;
c) Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh;
d) Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài
nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
e) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh;
g) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ
quan thi hành án cấp quân khu ủy thác;
h) Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi
hành;
i) Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc
tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về thi hành án.
3. Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án,
quyết định sau đây:
a) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài
sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự
trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương
trên địa bàn;
b) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài
sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự
trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn;
c) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài
sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự
trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho
cơ quan thi hành án cấp quân khu;
d)30 Quyết định
dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân
khu;
đ) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác.
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi
có yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Thời hạn ra quyết định thi hành án theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra
quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với
phần bản án, quyết định sau:
a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ
phí Tòa án;
b) Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;
c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản;
các khoản thu khác cho Nhà nước;
d) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà
nước;
đ) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết
định quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này, Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự phải ra quyết định thi hành án.
Đối với quyết định quy định tại điểm đ khoản này thì phải ra ngay quyết
định thi hành án.
Đối với quyết định quy định tại điểm e khoản này thì phải ra quyết định
thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
3. Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ, tên, chức vụ của người ra
quyết định; số, ngày, tháng, năm, tên cơ quan, tổ chức ban hành bản án, quyết
định; tên, địa chỉ của người phải thi hành án, người được thi hành; phần nghĩa
vụ phải thi hành án; thời hạn tự nguyện thi hành án.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
1. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án ra quyết định thu
hồi quyết định về thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền;
b) Quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc;
c) Căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn;
d) Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật này.
2. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án, người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu
sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án trong trường hợp quyết định về thi
hành án có sai sót mà không làm thay đổi nội dung vụ việc thi hành án.
3. Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án, người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định hủy hoặc yêu cầu hủy quyết
định về thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới, Chấp
hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp trong các trường hợp sau đây:
a) Phát hiện các trường hợp quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều
này mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới, Chấp hành viên thuộc
quyền quản lý trực tiếp không tự khắc phục sau khi có yêu cầu;
b) Quyết định về thi hành án có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ
quan có thẩm quyền.
4. Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về thi hành
án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi,
bổ sung, hủy bỏ.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, các quyết
định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, trừ
trường hợp Luật này có quy định khác.
Quyết định cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi tổ chức
cưỡng chế thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực
hiện quyết định cưỡng chế thi hành án.
1. Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác
có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền,
nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản
đó.
2. Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài
sản, trốn tránh việc thi hành án.
3. Việc thông báo được thực hiện theo các hình thức sau đây:
a) Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy
định của pháp luật;
b) Niêm yết công khai;
c) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
4. Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp
pháp luật quy định ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án chịu.
1. Văn bản thông báo cho cá nhân phải được giao trực tiếp và yêu cầu
người đó ký nhận hoặc điểm chỉ.
2. Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được
giao cho một trong số những người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng
cư trú với người đó, bao gồm vợ, chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô,
cậu, dì, anh, chị, em của đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự.
Việc giao thông báo phải lập thành biên bản. Ngày lập biên bản là ngày
được thông báo hợp lệ.
Trường hợp người được thông báo không có người thân thích có đủ năng
lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng người đó từ chối nhận văn bản
thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì
người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được thông
báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện việc niêm yết công khai theo
quy định tại Điều 42 của Luật này.
3. Trường hợp người được thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải
thông báo theo địa chỉ mới của người được thông báo.
Trường hợp người được thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông
báo phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu
trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này
ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia
việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người
này ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ.
1. Việc niêm yết công khai văn bản thông báo chỉ được thực hiện khi
không rõ địa chỉ của người được thông báo hoặc không thể thực hiện được việc
thông báo trực tiếp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo hoặc cá
nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thực hiện việc niêm
yết.
2. Việc niêm yết được thực hiện theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự,
trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người
được thông báo;
b) Lập biên bản về việc niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày,
tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm, tên của văn bản thông báo; có chữ ký
của người chứng kiến.
3. Thời gian niêm yết công khai văn bản thông báo là 10 ngày, kể từ
ngày niêm yết. Ngày niêm yết là ngày được thông báo hợp lệ.
1. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện
khi pháp luật có quy định hoặc khi đương sự có yêu cầu.
2. Trường hợp xác định đương sự đang có mặt tại địa phương nơi đương sự
cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp
hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp.
Trường hợp xác định đương sự không có mặt tại địa phương nơi đương sự
cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp
hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của trung ương hai lần trong 02 ngày
liên tiếp.
3. Ngày thực hiện việc thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại
chúng là ngày được thông báo hợp lệ.
1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành
án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến
hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời thì phải tiến hành xác minh ngay.
Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông
tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự
và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.
2. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì
ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án;
trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang
chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm
trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi
hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà
người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành
án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác
minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi
hành án của người phải thi hành án.
3. Cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền cho cơ quan thi hành án
dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở
để xác minh điều kiện thi hành án.
4. Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm
sau đây:
a) Xuất trình thẻ Chấp hành viên;
b) Xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để thi hành
án; đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch
bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao
dịch đó;
c) Trường hợp xác minh bằng văn bản thì văn bản yêu cầu xác minh phải
nêu rõ nội dung xác minh và các thông tin cần thiết khác;
d) Trường hợp người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức thì Chấp hành
viên trực tiếp xem xét tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản; xác minh tại cơ
quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về
tài sản, tài khoản của người phải thi hành án;
đ) Yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các
nội dung cần xác minh trong trường hợp cần thiết;
e) Lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh có xác nhận của Ủy ban
nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác
minh.
5. Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác
xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều
kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp
hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm
sát nhân dân thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung
cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.
6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc
xác minh điều kiện thi hành án:
a) Cơ quan, tổ chức, công chức tư pháp - hộ tịch, địa chính - xây dựng
- đô thị và môi trường, cán bộ, công chức cấp xã khác và cá nhân có liên quan
thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về các nội dung
thông tin đã cung cấp;
b) Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài
khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện
thi hành án của người phải thi hành án; ký vào biên bản trong trường hợp Chấp
hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên, đối với
thông tin về tài khoản thì phải cung cấp ngay;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài
sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi
người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi
hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu,
trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ
quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ
lý do.
7. Trường hợp người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không
cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người
phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi
phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
1. Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo
đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm
nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài
sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy
định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
b) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định
nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải
trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà
đương sự không có thỏa thuận khác;
c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án,
người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.
2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi
hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử
về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm
yết. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án
phải tổ chức thi hành.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi
hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định
thi hành án.
2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán,
hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp
hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.
1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải
thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị
cưỡng chế.
2. Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06
giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và
các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
1. Số tiền thi hành án, sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản
tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này thì được thanh toán theo thứ tự
sau đây:
a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc,
trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về
tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần;
b) Án phí, lệ phí Tòa án;
c) Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định.
2. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền
thi hành án được thực hiện như sau:
a) Việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều
này; trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì
việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;
b) Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được
thanh toán cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định
cưỡng chế đó; số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án
theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán;
c) Sau khi thanh toán theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, số
tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.
3. Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế
chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định
tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ
việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên
nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ án phí của
bản án, quyết định đó, chi phí cưỡng chế và khoản tiền quy định tại khoản 5
Điều 115 của Luật này.
Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp
không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu
tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản theo quy định tại Điều này.
4. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án về phá sản thực hiện theo quy
định của pháp luật về phá sản.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền, tài sản thi hành
án, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án
quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Trường hợp đương sự không đến nhận thì tiền, tài sản đó được xử lý theo
quy định tại Điều 126 của Luật này.
1.37
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong
trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp
huyện trở lên; bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định
của Tòa án;
b) Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do
chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ
theo bản án, quyết định;
c) Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải
lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian
hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi
hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;
d) Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy
định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này; tài sản được kê biên theo Điều 90 của
Luật này nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi
phí và nghĩa vụ được bảo đảm;
đ) Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải
thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;
e) Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông
báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không
đến nhận;
g) Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại
Điều 54 của Luật này chưa thực hiện được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan;
h) Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận
để thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của Luật này.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án
khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít
nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết
định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành
án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế
đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.
Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong
thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu
hoãn thi hành án.
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
đối với bản án, quyết định của Tòa án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần
để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được.
Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng
nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn
thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không
phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
3. Thời hạn ra quyết định hoãn thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ
ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều này thì phải ra ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận
được yêu cầu của người có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án
quy định tại khoản 1 Điều này không còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu
cầu của người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được
văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ
kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp
tục thi hành án.
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ
thi hành án khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm
quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ
thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho
người đã kháng nghị.
Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người
phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi
hành án khi nhận được thông báo của Tòa án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đối với người phải thi hành án.
Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được thông báo của Tòa án.
3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi
hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các
quyết định sau đây:
a) Quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền;
b) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án,
quyết định bị kháng nghị;
c) Quyết định của Tòa án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản,
đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản.
1.38
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án
trong trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định
của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển
giao cho người thừa kế;
b) Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và
lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người
thừa kế hoặc không có người thừa kế;
c) Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có
văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn
bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình
chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;
d) Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 103 của Luật này;
đ) Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản
mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ
chức khác;
e) Có quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án;
g) Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành
án;
h) Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định
đã chết hoặc đã thành niên.
2. Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể
từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Việc thi hành án đương nhiên kết thúc trong trường hợp sau đây:
1. Có xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc đương sự đã thực
hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình.
2. Có quyết định đình chỉ thi hành án.
Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả
thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương
sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp giấy xác nhận kết quả thi hành
án.
1. Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức được
thực hiện như sau:
a) Trường hợp hợp nhất thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa
vụ thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
b) Trường hợp sáp nhập thì tổ chức sáp nhập tiếp tục thực hiện quyền,
nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
c) Trường hợp chia, tách thì cơ quan ra quyết định chia, tách phải xác
định rõ cá nhân, tổ chức tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án theo
quyết định chia, tách, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu quyết định chia, tách không quy định nghĩa vụ của các tổ chức mới
thì sau khi chia, tách các tổ chức mới có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa
vụ thi hành án của tổ chức bị chia, tách;
d)41 Trường hợp
giải thể thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể phải thông báo cho cơ
quan thi hành án dân sự biết trước khi ra quyết định. Trường hợp quyền, nghĩa
vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể được chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ
chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Trường hợp doanh nghiệp giải thể do bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp thì nghĩa vụ thi hành án được
chuyển giao theo quy định của Luật doanh nghiệp.
Cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết
định giải thể theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tài sản để thi hành án không còn do thực hiện quyết định
giải thể trái pháp luật thì cơ quan ra quyết định giải thể phải chịu trách
nhiệm thi hành phần nghĩa vụ của tổ chức bị giải thể tương ứng với tài sản đó;
đ) Trường hợp phá sản thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được thực hiện
theo quyết định về phá sản;
e)42 Trường hợp
doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực
hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, công ty cổ
phần tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.
2. Trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân
chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy
định của pháp luật về thừa kế.
3. Trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì tổ chức, cá
nhân được chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu
thi hành án hoặc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo quy định của
Luật này.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với
cá nhân, tổ chức mới tương ứng với quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao
và ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án trước đây.
Đối với các quyết định, thông báo khác về thi hành án thì tùy từng
trường hợp cụ thể mà cơ quan thi hành án dân sự giữ nguyên, thu hồi hoặc ra các
quyết định, thông báo khác phù hợp theo quy định của Luật này.
4. Trường hợp đương sự thỏa thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ
về thi hành án cho người thứ ba thì người thứ ba có quyền, nghĩa vụ của đương
sự.
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho
cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư
trú hoặc có trụ sở.
2. Trường hợp người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc
có trụ sở ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác
thi hành án từng phần cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án
có điều kiện thi hành án để thi hành phần nghĩa vụ của họ.
Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi
người phải thi hành án có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sản hoặc
nơi có tài sản trùng với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người phải thi
hành án thì ủy thác đến nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó.
Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú
hoặc có tài sản ở các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự ủy thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự
thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành
án.
3. Việc ủy thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày xác định có căn cứ ủy thác. Trường hợp cần thiết phải ủy thác việc thi
hành quyết định của Tòa án về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì việc ủy
thác phải thực hiện ngay sau khi có căn cứ ủy thác.
1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh ủy thác thi hành các bản án,
quyết định sau đây:
a) Ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác thi hành
các bản án, quyết định về nhận người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường
thiệt hại mà người phải thi hành án là cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở lên; bản
án, quyết định có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ;
quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
b) Ủy thác cho cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành vụ việc mà
đương sự hoặc tài sản có liên quan đến quân đội trên địa bàn;
c) Ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện vụ việc khác, trừ
những trường hợp quy định tại điểm a và điểm b của khoản này.
2. Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện ủy thác vụ việc thuộc thẩm
quyền thi hành án của mình cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác, cơ
quan thi hành án cấp quân khu, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện khác có
điều kiện thi hành.
3. Cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền
thi hành án của mình cho cơ quan thi hành án cấp quân khu khác, cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có điều kiện
thi hành.
1. Trước khi ủy thác, cơ quan thi hành án dân sự phải xử lý xong tài
sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên tại địa bàn có liên quan đến khoản ủy
thác. Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi
hành án nhưng xét thấy cần ủy thác thì phải ra quyết định thu hồi một phần hoặc
toàn bộ quyết định thi hành án và ra quyết định ủy thác cho nơi có điều kiện
thi hành.
2. Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác không được trả lại quyết
định ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác mà phải tiếp tục thực
hiện việc thi hành án theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quyết định ủy
thác có sự nhầm lẫn, sai sót rõ ràng về thẩm quyền của cơ quan nhận ủy thác thi
hành án, nội dung thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy
thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và thông
báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác về việc nhận được
quyết định ủy thác.
1. Việc bảo quản tài sản thi hành án được thực hiện bằng một trong các
hình thức sau đây:
a) Giao cho người phải thi hành án, người thân thích của người phải thi
hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật này hoặc người đang sử dụng,
bảo quản;
b) Cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản;
c) Bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự.
2. Tài sản là kim khí quý, đá quý, tiền hoặc giấy tờ có giá được bảo
quản tại Kho bạc nhà nước.
3. Việc giao bảo quản tài sản phải được lập biên bản ghi rõ loại tài
sản, tình trạng tài sản, giờ, ngày, tháng, năm giao; họ, tên Chấp hành viên,
đương sự, người được giao bảo quản, người làm chứng, nếu có; quyền, nghĩa vụ
của người được giao bảo quản tài sản và có chữ ký của các bên. Trường hợp có
người từ chối ký thì phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.
Người được giao bảo quản tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều này
được trả thù lao và được thanh toán chi phí bảo quản tài sản. Thù lao và chi
phí bảo quản tài sản do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
4. Biên bản giao bảo quản tài sản được giao cho đương sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người được giao bảo quản tài sản hoặc người đang
sử dụng, bảo quản tài sản và lưu hồ sơ thi hành án.
5. Người được giao bảo quản tài sản vi phạm quy định của pháp luật
trong việc bảo quản tài sản thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải
thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi
hành án, giá tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá
tài sản đó thì tài sản được định giá theo quy định tại Điều 98 của Luật này để
thi hành án.
Người được thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự.
Chính phủ quy định mức phí thi hành án dân sự, thủ tục thu nộp, quản
lý, sử dụng phí thi hành án dân sự.
1. Người phải thi hành án được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ
các điều kiện sau đây:
a) Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của
pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu
nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ
có trách nhiệm nuôi dưỡng;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với
khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời
hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân
sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng.
2. Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân
sách nhà nước được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều
kiện sau đây:
a) Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần
nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ
ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000
đồng đến dưới 10.000.000 đồng.
3. Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân
sách nhà nước mà thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được
xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện sau đây:
a) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần
nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần
giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án;
b) Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần
nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá
một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000
đồng.
4. Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí,
tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên
tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được
phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa
vụ còn lại.
5. Người phải thi hành án quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ
được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định.
Quyết định thi hành án lần đầu là căn cứ để xác định thời hạn xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án.
6. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao hướng dẫn Điều này.
Cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Hồ sơ bao gồm các tài liệu sau đây:
1. Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp
đề nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt.
2. Bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan
thi hành án dân sự.
3. Biên bản xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn,
giảm.
4. Tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi
hành án của người phải thi hành án, nếu có.
5. Ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ
quan thi hành án dân sự đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
1. Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân
sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân
quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương44) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức
việc thi hành án có trụ sở.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
3. Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ
trì, có sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân
sự đã đề nghị xét miễn, giảm.
Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan thi
hành án dân sự trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện
kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét
hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự,
Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề
nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người được
xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
án, trại giam, trại tạm giam nơi người được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang chấp hành hình phạt tù.
1. Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện
kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm
sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ
ngày nhận được quyết định.
Hết thời hạn kháng nghị, Viện kiểm sát không kháng nghị thì quyết định
của Tòa án có hiệu lực thi hành.
2. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị
của Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án phải
chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị lên Tòa án cấp trên trực tiếp.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Tòa
án cấp trên trực tiếp phải mở phiên họp để xét kháng nghị.
Phiên họp xét kháng nghị do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của
đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu đại
diện cơ quan thi hành án dân sự đã lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tham dự.
Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định giải quyết kháng nghị.
Quyết định của Tòa án về giải quyết kháng nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án có hiệu lực thi hành.
4. Trường hợp Viện kiểm sát rút quyết định kháng nghị trước hoặc trong
phiên họp xét kháng nghị thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị.
Quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm thi hành án bị kháng nghị có hiệu lực
thi hành.
5. Trường hợp sau khi quyết định cho miễn, giảm thi hành án có hiệu lực
mà phát hiện người phải thi hành án có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin
miễn, giảm, trốn tránh việc thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện
kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm có trách nhiệm đề nghị Chánh án Tòa án, Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
và tố tụng dân sự xem xét việc kháng nghị quyết định miễn, giảm thi hành án
theo thủ tục tái thẩm.
Trường hợp cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân
sách nhà nước cấp phải thi hành án đã áp dụng mọi biện pháp tài chính cần thiết
mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi
hành án. Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với người gây ra thiệt hại được
thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chính phủ quy định thẩm quyền, điều kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm
tài chính để thi hành án.
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN
1. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của
đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu
tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo
đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.
2. Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng
biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp
bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.
3. Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:
a) Phong tỏa tài khoản;
b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;
c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.
1. Việc phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được thực hiện trong
trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, tài sản gửi giữ.
2. Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định
rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa. Chấp hành viên phải giao quyết định phong tỏa
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải
thi hành án.
Trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản của người phải thi
hành án ở nơi gửi giữ mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên
lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản
của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24
giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài
khoản, tài sản.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực
hiện ngay yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, tài sản. Biên bản,
quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản trong trường hợp này phải được gửi ngay
cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài
khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế
hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định của Luật này.
1. Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ
tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân
khác đang quản lý, sử dụng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm
phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên trong việc tạm giữ tài
sản, giấy tờ.
2. Quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản,
giấy tờ bị tạm giữ. Chấp hành viên phải giao quyết định tạm giữ tài sản, giấy
tờ cho đương sự hoặc tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng.
Trường hợp cần tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết
định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ
và lập biên bản về việc tạm giữ.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban
hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản,
giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Khi tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản có chữ ký của Chấp
hành viên và người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ; trường hợp người
đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ không ký thì phải có chữ ký của người
làm chứng. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được giao cho người quản lý,
sử dụng tài sản, giấy tờ.
4. Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử
dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền
khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm
giữ.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu
Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định người có quyền sở hữu, sử dụng đối với
tài sản, giấy tờ tạm giữ.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản, giấy
tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành
viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV
của Luật này; trường hợp có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ không
thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hoặc thuộc quyền sở hữu,
sử dụng của người phải thi hành án nhưng đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình
thì Chấp hành viên phải ra quyết định trả lại tài sản, giấy tờ cho người có
quyền sở hữu, sử dụng.
1. Trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển
quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn
tránh việc thi hành án, Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký,
chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi
hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác.
2. Quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay
đổi hiện trạng tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan để tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện
trạng tài sản đó.
3. Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử
dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền
khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu
Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi
hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên
quan đến tài sản theo quy định của pháp luật.
4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản thuộc
quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết
định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV của Luật này;
trường hợp có căn cứ xác định tài sản không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của
người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải ra quyết định chấm dứt việc tạm
dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Căn cứ để cưỡng chế thi hành án bao gồm:
1. Bản án, quyết định.
2. Quyết định thi hành án.
3. Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định
đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá
của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản
đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công
việc nhất định.
1. Chấp hành viên lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án trong trường hợp
cần huy động lực lượng.
2. Kế hoạch cưỡng chế thi hành án có các nội dung chính sau đây:
a) Tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế;
b) Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng;
c) Thời gian, địa điểm cưỡng chế;
d) Phương án tiến hành cưỡng chế;
đ) Yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế;
e) Dự trù chi phí cưỡng chế.
3. Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ
quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án. Cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của Chấp
hành viên.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng
chế của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan Công an có trách nhiệm xây
dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế.
Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết
để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu
tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi
tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội.
1. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
a) Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;
b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo
vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho
việc cưỡng chế thi hành án;
c) Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản;
chi phí định giá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 và
điểm a khoản 3 Điều này;
d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ,
vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây
ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế
thi hành án;
đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;
e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo
vệ cưỡng chế thi hành án.
2. Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau
đây:
a)49 Chi phí định
giá lại tài sản nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp
định giá lại do có vi phạm quy định về định giá;
b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản
án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá
dỡ.
3. Ngân sách nhà nước trả chi phí cưỡng chế thi hành án trong các
trường hợp sau đây:
a) Định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về định giá;
b)50 Chi phí xác
minh điều kiện thi hành án;
c) Chi phí cần thiết khác theo quy định của Chính phủ;
d) Trường hợp đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án
theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành viên dự trù chi phí cưỡng chế và thông báo cho người phải
thi hành án biết ít nhất 03 ngày làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định,
trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng chế ngay. Chi phí cưỡng chế thi hành án
được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.
5. Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án được thanh toán theo mức chi
thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của
Chấp hành viên.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực
hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án.
6. Chi phí cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào
tiền thu được, tiền bán đấu giá tài sản kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ
ba giữ. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ
tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.
7. Chính phủ quy định mức bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia cưỡng
chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án; thủ tục thu, nộp, miễn, giảm chi phí cưỡng
chế thi hành án.
1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền
sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án
thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có
quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận
phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân
sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không
có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc
thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên
thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần
quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong
khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi
hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác
định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành
án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.
2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của
các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng
biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi
hành án;
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia
làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện
pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn
lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
3. Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải
thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung.
Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp
hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của
người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất
động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo
thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ
sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101
của Luật này.
1. Trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi
hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự,
người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ
quan có thẩm quyền giải quyết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự,
người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền
giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án
hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự,
người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có
thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy
định của Luật này.
2. Trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi
hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho
người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành
án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô
hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.
3. Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết các việc quy
định tại khoản 1 Điều 74 của Luật này và khoản 1, khoản 2 Điều này để thi hành
án thì không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án.
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ TIỀN
1. Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người
phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và
chi phí cưỡng chế.
2. Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản
của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu
trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho
người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.
1. Việc phong tỏa tài khoản được chấm dứt trong các
trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án đã thi hành xong nghĩa vụ thi hành án;
b) Cơ quan, tổ chức đã thực hiện xong yêu cầu của Chấp hành viên về
khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án;
c) Có quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại Điều 50 của
Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc phong
tỏa tài khoản ngay sau khi có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
1. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền
lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.
2. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong
các trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận của đương sự;
b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành
án;
c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi
hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi
hành án.
3. Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi
hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền
trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường
hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ
vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện
sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của
pháp luật.
4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người
phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và
các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều này.
1. Trường hợp người phải thi hành án có thu nhập từ hoạt động kinh
doanh thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh của
người đó để thi hành án.
Khi thu tiền, Chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt
động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình.
2. Chấp hành viên cấp biên lai thu tiền cho người phải thi hành án.
Trường hợp phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ
xác định khoản tiền đó là của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra
quyết định thu tiền để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền và cấp
biên lai cho người phải thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không ký
vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
Trường hợp phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành
án thì Chấp hành viên ra quyết định thu khoản tiền đó để thi hành án. Người thứ
ba đang giữ tiền của người phải thi hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho Chấp
hành viên để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền, cấp biên lai
cho người thứ ba đang giữ tiền và thông báo cho người phải thi hành án. Trường
hợp người thứ ba đang giữ tiền không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của
người làm chứng.
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
1. Trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức,
cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên
ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để thi hành án.
2. Người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có
giá của người phải thi hành án phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành
án dân sự theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ
giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành
viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó
để thi hành án.
Việc bán giấy tờ có giá được thực hiện theo quy định của pháp luật.
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1. Chấp hành viên ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc
quyền sở hữu của người phải thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ
chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.
2. Khi kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án, tùy
từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
3. Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và
lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết
định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê
biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc
phải chuyển giao.
4. Chấp hành viên quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử
dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử
dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các
chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề
nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng,
khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
5. Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí
tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được
thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ
chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án.
1. Quyền sở hữu trí tuệ được định giá theo quy định tại Điều 98 và Điều
99 của Luật này và pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, phương pháp định giá và thẩm
quyền định giá quyền sở hữu trí tuệ.
1. Quyền sở hữu trí tuệ được bán đấu giá theo quy định của pháp luật về
bán đấu giá tài sản và pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục bán đấu giá và thẩm quyền bán
đấu giá quyền sở hữu trí tuệ.
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ VẬT
1. Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục
vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp
cho cơ quan, tổ chức.
2. Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:
a) Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án
và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;
b) Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và
gia đình;
c) Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc
người ốm;
d) Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương;
đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm
phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia
đình;
e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình.
3. Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác
xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương
thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản
khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng,
chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.
1. Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm
việc, Chấp hành viên thông báo cho đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ
dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự
tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
Trường hợp đương sự vắng mặt thì có thể ủy quyền cho người khác thực
hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương
sự hoặc người được ủy quyền vắng mặt thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê
biên, nhưng phải mời người làm chứng và ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên.
Trường hợp không mời được người làm chứng thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc
kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải
thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng tài sản đó mà phải mở khóa, phá
khóa, mở gói thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật
này.
2. Việc kê biên tài sản phải lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ,
ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy
quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản;
diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự
và ý kiến của người làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được ủy quyền, người
làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức
cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản.
1. Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp
hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã
đăng ký.
2. Sau khi kê biên, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan
đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178
của Luật này.
1. Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có
tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý
tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài
sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
2. Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông
báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người
nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3
Điều 47 của Luật này.
Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi
hành án, kể cả trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết định khác
thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp
người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ
phải giao tài sản để thi hành án.
Trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì người thuê được tiếp tục
thuê theo hợp đồng đã giao kết.
1. Chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi
hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành
án để kê biên phần vốn góp đó. Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án;
trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của
người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án.
2. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần vốn góp của người
phải thi hành án.
Khi kê biên đồ vật đang bị khóa hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu
cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý đồ vật mở khóa, mở gói;
nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê
cá nhân, tổ chức khác mở khóa, phá khóa hoặc mở gói, trong trường hợp này phải
có người làm chứng. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khóa,
phá khóa, mở gói.
Trường hợp cần thiết, sau khi mở khóa, phá khóa, mở gói, Chấp hành viên
niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều 58 của Luật này.
Việc mở khóa, phá khóa, mở gói hoặc niêm phong phải lập biên bản, có
chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.
Khi kê biên tài sản là công trình xây dựng gắn liền với đất phải kê
biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên
theo quy định của pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất không làm
giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và
gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác
hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án
đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà
ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì
Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người
có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý
thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và
đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.
3. Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ
thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán
đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền
tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.
4. Việc kê biên nhà ở bị khóa được thực hiện theo quy định tại Điều 93
của Luật này.
1. Trường hợp kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành
án, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng
phương tiện đó phải giao giấy đăng ký phương tiện đó, nếu có.
2. Đối với phương tiện giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau
khi kê biên Chấp hành viên có thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án,
người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không
được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp.
Trường hợp giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng
tiếp tục khai thác sử dụng phương tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho
người đó biên bản thu giữ giấy đăng ký để phương tiện được phép tham gia giao
thông.
3. Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển
nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện
bị kê biên.
4. Việc kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện
theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.
Trường hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp
hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương
thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người
phải thi hành án và gia đình họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều
87 của Luật này.
1. Ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thỏa thuận được về giá tài sản
hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó.
Giá tài sản do đương sự thỏa thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp
đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng
dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp
hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau
đây:
a) Đương sự không thỏa thuận được về giá và không thỏa thuận được việc
lựa chọn tổ chức thẩm định giá;
b) Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng
dịch vụ;
c) Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của
Luật này.
3. Chấp hành viên xác định giá trong các trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện được việc ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 2
Điều này;
b) Tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ
mà đương sự không thỏa thuận được với nhau về giá. Chính phủ quy định về tài
sản có giá trị nhỏ.
1. Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện
trong các trường hợp sau đây:
a) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật
này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản;
b)53 Đương sự có
yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài
sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần và chỉ được chấp nhận nếu
đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá
lại tài sản.
2. Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện
theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 98 của Luật này.
3.54 Giá thẩm
định lại được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá theo quy định.
1. Trường hợp đương sự thỏa thuận để người được thi hành án nhận tài
sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên
bản về việc thỏa thuận.
Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải
được sự đồng ý của những người được thi hành án khác và phải thanh toán lại cho
những người được thi hành án khác số tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được
hưởng.
2. Việc giao tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện
trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thỏa thuận.
1. Tài sản đã kê biên được bán theo các hình thức sau đây:
a) Bán đấu giá;
b) Bán không qua thủ tục đấu giá.
2. Việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ
trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.
Đương sự có quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá trong thời hạn
không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá. Chấp hành viên ký hợp đồng
dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thỏa thuận.
Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức
bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời
hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là
30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.
3. Chấp hành viên bán đấu giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau
đây:
a) Tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản chưa có tổ
chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ
bán đấu giá tài sản;
b) Động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là
30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận
được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá.
4. Chấp hành viên bán không qua thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có
giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản phải được thực hiện trong thời hạn không quá 05 ngày
làm việc, kể từ ngày kê biên.
5. Trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành
án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi
phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu
giá.
Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý
cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thỏa thuận; nếu không
thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
6. Thủ tục bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về
bán đấu giá tài sản.
1. Việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của
pháp luật về bán đấu giá tài sản; trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy
thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật
này.
2. Người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu
có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản.
3. Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá
tài sản bị hủy được giải quyết theo quy định của pháp luật.
1. Người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành
án được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.
2. Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài
sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì
cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng
chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ
trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự
có thỏa thuận khác.
3. Việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá,
người nhận tài sản để thi hành án thực hiện theo quy định tại các điều 114,
115, 116 và 117 của Luật này.
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của
tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có
người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên
thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự
không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên
quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá.
2. Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu
giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền
nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số
tiền được thi hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo
về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành
thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được
thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án,
nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành
án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho
người được thi hành án. Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký
quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người
được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử
dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang
quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành
án thì bị cưỡng chế thi hành án.
3. Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi
hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu
giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người
được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản
được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành
án không được đưa tài sản này tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực
hiện xong nghĩa vụ thi hành án.
4. Đối với tài sản bán đấu giá để thi hành các khoản nộp ngân sách nhà
nước, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản
đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu
giá không thành thì Chấp hành viên quyết định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá
tài sản.
5. Mỗi lần giảm giá theo quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này
không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó.
1. Việc giải tỏa kê biên tài sản được thực hiện trong các trường hợp
sau đây:
a) Đương sự thỏa thuận về việc giải tỏa kê biên tài sản mà không ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;
b) Đương sự đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi
hành án theo quy định của Luật này;
c) Có quyết định của người có thẩm quyền hủy bỏ quyết định kê biên tài
sản;
d) Có quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại Điều 50 của
Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết định giải tỏa kê biên và trả lại tài sản cho
người phải thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ
quy định tại khoản 1 Điều này.
1. Người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số
tiền được thi hành án được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng
đối với tài sản đó.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký,
chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào số
tiền được thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp đầy
đủ những văn bản, giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này cho người mua tài sản
thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
3.58 Hồ sơ đăng
ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự;
b) Bản sao bản án, quyết định;
c) Quyết định thi hành án;
d) Quyết định kê biên tài sản, nếu có;
đ) Văn bản bán đấu giá thành hoặc quyết định giao tài sản, biên bản
giao nhận tài sản để thi hành án;
e) Giấy tờ khác có liên quan đến tài sản.
4.59 Trường hợp
tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không
có hoặc không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp
Giấy chứng nhận theo quy định của Chính phủ.
5.60 Đối với tài
sản không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này mà không có giấy tờ
đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng
ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản.
6.61 Giấy tờ được
cấp mới thay thế cho giấy tờ không thu hồi được. Giấy tờ không thu hồi được
không còn giá trị.
CƯỠNG CHẾ KHAI THÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
1. Chấp hành viên cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành
án trong các trường hợp sau đây:
a) Tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa
vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án;
b) Người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi
hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
của người thứ ba.
2. Chấp hành viên phải ra quyết định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết
định ghi rõ hình thức khai thác; số tiền, thời hạn, thời điểm, địa điểm, phương
thức nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.
Quyết định cưỡng chế khai thác tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan
có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối với tài sản đó và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
có tài sản.
Việc thực hiện giao dịch, chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với tài
sản đang khai thác phải được sự đồng ý của Chấp hành viên.
Tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành
án theo các hình thức sau đây:
1. Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho
người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác.
Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì
Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với
tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản.
2. Người khai thác tài sản quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp số
tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi
trừ các chi phí cần thiết.
3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày yêu cầu mà người phải thi hành án
không ký hợp đồng khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý
tài sản đó để thi hành án.
1. Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài
sản trong các trường hợp sau đây:
a) Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi
hành án;
b) Người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng
yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản;
c) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các
chi phí về thi hành án;
d) Có quyết định đình chỉ thi hành án.
2. Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt theo quy định
tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử
lý tài sản đó để thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại
điểm c và điểm d khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày có quyết định, Chấp hành viên ra quyết định giải tỏa việc cưỡng chế khai
thác tài sản và trả lại tài sản cho người phải thi hành án.
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1. Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành
án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về
đất đai.
2. Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng
chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất
đó.
1. Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi
hành án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ
đó cho cơ quan thi hành án dân sự.
2. Khi kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc
quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất.
Trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất
mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên
quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất.
3. Việc kê biên quyền sử dụng đất phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện
tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê
biên.
1. Trường hợp diện tích đất đã kê biên đang do người phải thi hành án
quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê
biên cho người đó.
Trường hợp diện tích đất đã kê biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác
quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm giao cho tổ chức, cá nhân đó.
2. Trường hợp người phải thi hành án hoặc tổ chức, cá nhân quy định tại
khoản 1 Điều này không nhận thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê
biên cho tổ chức, cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng. Trường hợp không có
tổ chức, cá nhân nào nhận thì cơ quan thi hành án dân sự tiến hành ngay việc
định giá và bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
3. Việc tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên phải được
lập biên bản, trong đó ghi rõ:
a) Diện tích, loại đất, vị trí, số thửa đất, số bản đồ;
b) Hiện trạng sử dụng đất;
c) Thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất;
d) Quyền và nghĩa vụ cụ thể của người được tạm giao quản lý, khai thác,
sử dụng đất.
4. Trong thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên,
người được tạm giao không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê
lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không
được làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất; không được sử dụng đất trái mục đích.
1. Trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của
người khác thì xử lý như sau:
a) Đối với tài sản có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết
định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di
chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Trường hợp
người có tài sản không tự nguyện di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn
cho người có tài sản và người phải thi hành án thỏa thuận bằng văn bản về
phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà
họ không thỏa thuận được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử
dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và người
có tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp người có tài sản là người thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng
quyền sử dụng đất của người phải thi hành án mà không hình thành pháp nhân mới
thì người có tài sản được quyền tiếp tục ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn
bằng quyền sử dụng đất với người trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất
trong thời hạn còn lại của hợp đồng mà họ đã ký kết với người phải thi hành án.
Trường hợp này, trước khi xử lý quyền sử dụng đất, Chấp hành viên có trách
nhiệm thông báo cho người tham gia đấu giá, người được đề nghị nhận quyền sử
dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng của người có tài sản gắn liền với
đất;
b) Đối với tài sản có sau khi người phải thi hành án nhận được quyết
định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di
chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Sau
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà người có tài sản không di chuyển tài
sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó
cùng với quyền sử dụng đất.
Đối với tài sản có sau khi kê biên, nếu người có tài sản không di
chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì tài sản phải bị tháo
dỡ. Chấp hành viên tổ chức việc tháo dỡ tài sản, trừ trường hợp người nhận
quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đồng ý mua tài
sản;
c) Người có tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án được
hoàn trả tiền bán tài sản, nhận lại tài sản, nếu tài sản bị tháo dỡ nhưng phải
chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu giá, tháo dỡ tài sản.
2. Trường hợp tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án gắn liền
với quyền sử dụng đất đã kê biên thì Chấp hành viên xử lý tài sản cùng với
quyền sử dụng đất.
3. Đối với tài sản là cây trồng, vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu
hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản xuất khép kín chưa kết thúc thì sau
khi kê biên, Chấp hành viên chỉ tiến hành xử lý khi đến mùa thu hoạch hoặc khi
kết thúc quy trình sản xuất khép kín.
CƯỠNG CHẾ TRẢ VẬT, GIẤY TỜ, CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1. Đối với vật đặc định, việc cưỡng chế được thực hiện như sau:
a) Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý,
sử dụng trả vật cho người được thi hành án; nếu người đó không thi hành thì
Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người được thi hành án;
b) Trường hợp vật phải trả giảm giá trị mà người được thi hành án không
đồng ý nhận thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thỏa thuận việc thi hành án.
Việc thi hành án được thực hiện theo thỏa thuận.
Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế
trả vật cho người được thi hành án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết về thiệt hại do vật phải trả bị giảm giá trị;
c)62 Trường hợp
vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thỏa
thuận khác về việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thỏa thuận.
Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến
mức không sử dụng được.
2. Đối với vật cùng loại thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế
theo nội dung bản án, quyết định.
Trường hợp vật phải trả không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp
hành viên yêu cầu người phải thi hành án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá
trị của vật cùng loại, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng vật
phải trả có thể tẩu tán, hủy hoại vật đó thì Chấp hành viên có quyền áp dụng
ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 68 của Luật này.
1. Trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành
viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi
nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện
thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra
khỏi nhà.
Trường hợp họ từ chối nhận tài sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi
rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ
chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành
án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài
sản.
2. Trường hợp người phải thi hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được
thông báo quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo
quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày thông báo theo quy định tại khoản
1 Điều này mà người có tài sản bảo quản không đến nhận thì tài sản đó được xử
lý theo quy định tại khoản 2 Điều 126 của Luật này, trừ trường hợp có lý do
chính đáng.
4. Việc cưỡng chế để trả lại công trình xây dựng, vật kiến trúc theo
bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều
này.
5. Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi
hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán
các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để
thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người
được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản
tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại
địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục
thực hiện theo quy định của Luật này.
1. Trường hợp người phải thi hành án không giao, trả giấy tờ cho người
được thi hành án theo nội dung bản án, quyết định thì Chấp hành viên cưỡng chế
buộc người phải thi hành án giao, trả giấy tờ đó.
Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải giao, trả thì
Chấp hành viên yêu cầu người đó giao, trả giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba
không tự nguyện giao, trả thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao, trả
giấy tờ để thi hành án.
2. Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì
Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ
đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án, người trúng đấu giá tài sản
thi hành án.
3. Trường hợp không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và giấy tờ về tài sản khác
thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 106 của Luật này.
4. Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại thì
việc thi hành án được xử lý theo quy định tại Điều 44a của Luật này.
1. Trường hợp bản án, quyết định tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử
dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức giao diện tích đất cho người được thi hành
án.
Khi tiến hành giao đất phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý
nhà nước về đất đai cùng cấp và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển
giao.
2. Việc xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao thực hiện theo
quy định sau đây:
a) Trường hợp tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản đó
tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người
được thi hành án. Nếu người có tài sản không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng
chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường
hợp đương sự có thỏa thuận khác. Chi phí cưỡng chế do người có tài sản chịu.
Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì
Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại
tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản
tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để
người có tài sản nhận lại tài sản.
Hết thời hạn thông báo mà người có tài sản không đến nhận thì tài sản
được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật này;
b) Trường hợp tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án, quyết
định sơ thẩm nhưng bản án, quyết định được thi hành không tuyên rõ việc xử lý
đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết
định giải thích rõ việc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền
xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Việc cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá hoặc
cho người nhận quyền sử dụng đất để trừ vào số tiền được thi hành án được thực
hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ BUỘC THỰC HIỆN
HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH
1. Trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo
bản án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên
quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết
định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
2. Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện
nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên xử lý như sau:
a) Trường hợp công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay
thì Chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do
người phải thi hành án chịu;
b) Trường hợp công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực
hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội không chấp hành án.
Người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công
việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện thì Chấp hành viên ra
quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu
cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt
công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì Chấp hành
viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không
chấp hành án.
1. Chấp hành viên ra quyết định buộc giao người chưa thành niên cho
người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định. Trước khi cưỡng chế giao
người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, Chấp hành viên phối hợp
với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết
phục đương sự tự nguyện thi hành án.
2. Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người
chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng
thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho
người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện
thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề
nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành
án.
1. Trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao động trở lại
làm việc theo bản án, quyết định thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối
với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử
dụng lao động, đồng thời ấn định thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định
phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc nhận người lao động trở lại
làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không thực hiện thì
Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
2. Trường hợp không thể bố trí người lao động trở lại làm công việc
theo nội dung bản án, quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công
việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động.
Trường hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu
cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật
lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt
nghĩa vụ thi hành án.
3. Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền
lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ
ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại
làm việc hoặc được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này.
THI HÀNH KHOẢN TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC; TIÊU HỦY TÀI SẢN; HOÀN TRẢ
TIỀN, TÀI SẢN KÊ BIÊN, TẠM GIỮ
TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
1. Vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự do yêu
cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự
trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì
phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tại thời điểm Tòa án chuyển
giao bản án, quyết định.
2. Việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ được tiến hành tại kho
của cơ quan thi hành án dân sự. Bên giao có trách nhiệm vận chuyển vật chứng,
tài sản tạm giữ đến kho của cơ quan thi hành án dân sự.
Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ không thể vận chuyển, di dời về bảo
quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự thì địa điểm giao nhận vật chứng,
tài sản tạm giữ là nơi đang gửi, giữ hoặc nơi đang có tài sản.
3. Việc tiếp nhận tài sản phải có sự tham gia đầy đủ của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự hoặc người được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
ủy quyền, thủ kho, kế toán.
Việc tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ được tiến hành theo thủ tục
sau đây:
1. Thủ kho có trách nhiệm trực tiếp nhận, kiểm tra hiện trạng vật
chứng, tài sản tạm giữ và nhập kho thi hành án. Việc giao nhận vật chứng, tài
sản tạm giữ phải được lập biên bản ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm giao nhận; số
lượng, chủng loại, hiện trạng của từng loại vật chứng, tài sản tạm giữ, có so
sánh với biên bản thu giữ ban đầu của cơ quan Công an hoặc Tòa án. Cơ quan thi
hành án dân sự chỉ tiếp nhận tài sản đủ và đúng với hiện trạng ghi trong biên
bản thu giữ ban đầu. Trong trường hợp vật chứng, tài sản tạm giữ giao, nhận đã
bị thay đổi so với biên bản thu giữ ban đầu thì Thủ trưởng cơ quan bên giao,
bên nhận có trách nhiệm kiểm tra, kết luận và cơ quan thi hành án dân sự chỉ
nhận khi đã được các cơ quan có thẩm quyền làm rõ về những thay đổi đó.
Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ phải có chữ ký của người
đại diện và dấu của cơ quan bên nhận, chữ ký của người đại diện và dấu của cơ
quan bên giao, nếu có.
2. Trường hợp vật chứng, tài sản tạm giữ được bàn giao dưới hình thức
gói niêm phong, cơ quan thi hành án dân sự chỉ nhận khi có kết quả giám định rõ
số lượng, chủng loại, chất lượng của từng loại vật chứng, tài sản tạm giữ trong
gói niêm phong đó của cơ quan có thẩm quyền. Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ
là các chất ma túy, cơ quan thi hành án dân sự chỉ nhận dưới hình thức gói niêm
phong kèm theo kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền.
Khi giao, nhận phải lập biên bản ghi rõ hiện trạng của vật chứng, tài
sản được niêm phong, có chữ ký của bên giao, bên nhận. Trường hợp niêm phong bị
rách hoặc có dấu hiệu khả nghi trên đó thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp
nhận khi có kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền.
1. Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ mà bản án, quyết định tuyên tịch
thu, sung quỹ nhà nước thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi
hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản và tiến hành
giao vật chứng, tài sản tạm giữ đó cho cơ quan tài chính cùng cấp. Đối với tài
sản tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành
thì chuyển cho cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu
có trụ sở.
Chi phí xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ
nhà nước do cơ quan tài chính nơi nhận vật chứng, tài sản tạm giữ chi trả theo
quy định của pháp luật.
2. Khi chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ phải kèm theo quyết định
thi hành án, bản án, quyết định hoặc bản sao bản án, quyết định do cơ quan thi
hành án dân sự sao y bản chính.
3. Việc chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ phải có sự tham gia của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc người được Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ủy quyền, kế toán, thủ kho và đại diện cơ quan tài chính. Việc
giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ được lập biên bản, mô tả cụ thể thực
trạng vật chứng, tài sản tạm giữ, có chữ ký của người đại diện và dấu của cơ
quan bên giao, chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên nhận, nếu có.
4. Trường hợp quyết định tịch thu vật chứng, tài sản tạm giữ đã được
thi hành nhưng sau đó phát hiện có sai lầm và đã được cơ quan có thẩm quyền ra
quyết định hủy bỏ quyết định tịch thu thì cơ quan thi hành án dân sự phối hợp
với cơ quan tài chính cùng cấp hoặc cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi
hành án cấp quân khu có trụ sở để làm thủ tục hoàn trả lại số tiền đã nộp vào
ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
1. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu
hủy vật chứng, tài sản thuộc diện tiêu hủy theo bản án, quyết định, trừ
trường hợp pháp luật quy định phải tiêu hủy ngay.
2. Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản gồm Chấp hành viên là Chủ tịch
Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan
chuyên môn tham gia Hội đồng khi cần thiết.
3. Viện kiểm sát cùng cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
tiêu hủy vật chứng, tài sản.
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền,
tài sản tạm giữ trong trường hợp bản án, quyết định tuyên trả lại tài sản cho
đương sự.
Trường hợp người được trả lại tiền, tài sản tạm giữ đồng thời là người
phải thi hành nghĩa vụ trả tiền không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên
xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án.
2. Sau khi có quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ, Chấp hành viên
thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến
nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ
hạn và thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không
đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng thì Chấp hành viên xử lý tài sản
theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được
theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có
lý do chính đáng thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.
3. Đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử
dụng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiêu hủy và
tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định tại Điều 125 của Luật này.
Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết
thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành
viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy
định.
4. Trường hợp tài sản trả lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng
không còn sử dụng được do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi
hành án dân sự trong quá trình bảo quản và đương sự từ chối nhận thì cơ quan
thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng nhà nước đổi tiền mới có giá trị tương
đương để trả cho đương sự.
Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng
được không do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự
mà đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng nhà
nước xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Việc trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án, quyết định được thực
hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
Chấp hành viên xử lý theo quy định tại các điều 98, 99, 100 và 101 của
Luật này đối với tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi
hành án trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án.
1. Giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án đang
chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi hành án,
thân nhân của người phải thi hành án nộp để thi hành án và chuyển cho cơ quan
thi hành án dân sự xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp người phải thi hành án chuyển trại giam, trại tạm giam
hoặc được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù hoặc chết thì Giám thị trại
giam, trại tạm giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù phải thông báo bằng văn
bản cho cơ quan thi hành án dân sự.
1. Chấp hành viên gửi thông báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài
sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thông qua Giám thị
trại giam, trại tạm giam.
Trường hợp người được thi hành án ủy quyền cho người khác nhận tiền,
tài sản thì văn bản ủy quyền phải có xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm
giam. Chấp hành viên trả tiền, tài sản cho người được ủy quyền.
2. Trường hợp người được thi hành án có yêu cầu và được nhận tiền, tài
sản tại nơi đang chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật thì Chấp
hành viên gửi tiền, tài sản cho người đó thông qua Giám thị trại giam, trại tạm
giam. Chi phí cho việc gửi tiền, tài sản do người được thi hành án chịu. Khi
giao tiền, tài sản cho đương sự, Giám thị trại giam, trại tạm giam lập biên bản
và gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.
3. Trường hợp người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù từ
chối nhận lại tiền, tài sản bằng văn bản có xác nhận của Giám thị trại giam,
trại tạm giam thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản để sung quỹ nhà nước hoặc
tiêu hủy theo quy định của Luật này.
THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
KHẨN CẤP TẠM THỜI
1. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định thi hành án,
Chấp hành viên phải áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế sau
đây:
a) Biện pháp cưỡng chế quy định tại các điều 118, 119, 120 và 121 của
Luật này để bảo đảm thi hành quyết định về cấm hoặc buộc đương sự thực hiện
hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao
động;
b) Biện pháp cưỡng chế quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 71 của
Luật này để bảo đảm thi hành quyết định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa
vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do
tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền
lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp cho người lao động;
c) Biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 75 của Luật này để đảm bảo thi
hành biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định về kê biên tài sản đang tranh chấp;
d) Biện pháp bảo đảm quy định tại các điều 66, 67, 68 và 69 của Luật
này để bảo đảm thi hành quyết định về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với
tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong
tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác; phong tỏa tài sản ở nơi gửi
giữ; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ;
đ) Biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 3 Điều 71 và các điều 98, 99,
100 và 101 của Luật này để bảo đảm thi hành quyết định về cho thu hoạch, cho
bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác.
2. Trường hợp người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở địa
phương khác thì tùy từng trường hợp cụ thể, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự ra quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người đó cư trú
hoặc nơi có tài sản tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời.
1. Trường hợp nhận được quyết định thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra ngay quyết định thi hành án, đồng thời thu hồi quyết định thi
hành án đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã bị thay đổi.
2. Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bị thay
đổi đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự thông báo cho Tòa án và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu
Tòa án giải quyết.
1. Trường hợp Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời thì ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi có quyết định đình chỉ thi hành quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Chấp hành viên làm thủ tục giải tỏa
kê biên, trả lại tài sản, giải tỏa việc phong tỏa tài sản hoặc tài khoản của
người có nghĩa vụ.
2. Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bị Tòa án
hủy bỏ, nhưng cơ quan thi hành án dân sự đã thi hành được một phần hoặc thi
hành xong thì việc giải quyết quyền lợi của đương sự được thực hiện theo quy
định tại khoản 2 Điều 131 của Luật này.
1. Chi phí thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của
Tòa án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước và thực hiện theo quy định tại Điều
73 của Luật này.
Trường hợp người yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời không đúng thì người đó phải thanh toán các chi phí thực tế do
việc thi hành quyết định đó. Khoản tiền đặt trước được đối trừ, tài sản bảo đảm
bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ.
2. Trường hợp Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì
chi phí thi hành án được thanh toán từ ngân sách nhà nước.
THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
Điều 134. Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết định đó chưa thi hành hoặc
đã thi hành được một phần thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết
định tiếp tục thi hành án. Trường hợp bản án, quyết định đó đã thi hành xong
thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự.
1. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết
định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa thì việc thi hành
được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm và bản án, quyết định đúng pháp
luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa.
2. Đối với phần bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới không bị hủy, bị
sửa mà chưa được thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết
định tiếp tục thi hành án; nếu đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự thông báo cho Tòa án đã ra quyết định giám đốc thẩm, Viện kiểm sát
cùng cấp và đương sự.
3. Đối với phần bản án, quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết
định của Tòa án cấp dưới mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì
đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại
quyền tài sản.
Trường hợp tài sản thi hành án là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và
bất động sản còn nguyên trạng thì cưỡng chế trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu.
Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm
hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án,
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau
đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa
hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban
đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản.
Trường hợp có yêu cầu về bồi thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án,
quyết định bị hủy, sửa giải quyết theo quy định của pháp luật.
1. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm
lại thì việc thi hành án được thực hiện theo bản án, quyết định sơ thẩm mới có
hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm mới.
2. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải
quyết vụ án mà phần tài sản trong bản án, quyết định bị hủy đã thi hành được
một phần hoặc đã thi hành xong thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 135
của Luật này.
THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH VỀ PHÁ SẢN
1. Sau khi nhận được văn bản của Tòa án thông báo về việc thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
tạm đình chỉ đối với các trường hợp thi hành về tài sản mà doanh nghiệp, hợp
tác xã là người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật
này.
Sau khi ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự thông báo cho Tòa án đang giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản về
kết quả thi hành án đối với doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá
sản.
2.64 Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành án về tài sản
mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án lâm vào tình trạng phá
sản ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án về việc mở thủ tục phá sản.
Việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về tài sản đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã là người phải thi hành án trong trường hợp này thực hiện theo quy định
của Luật phá sản. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chỉ đạo
Chấp hành viên bàn giao cho Tòa án các tài liệu thi hành án có liên quan đến
việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm
vào tình trạng phá sản.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ
tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ thủ tục phục hồi kinh doanh, Thẩm phán
tiến hành thủ tục phá sản phải gửi quyết định đó kèm theo toàn bộ hồ sơ liên
quan đến việc thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định đình
chỉ việc thi hành án về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi
hành án lâm vào tình trạng phá sản.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định đình
chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ thủ tục phục hồi kinh doanh, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định đình chỉ thi
hành án và tiếp tục thi hành án đối với phần nghĩa vụ về tài sản còn phải thi
hành đã đình chỉ đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và phân công Chấp hành viên
tổ chức thi hành vụ việc theo quy định của Luật này.
KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại
đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau:
a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện
pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
hoặc biết được hành vi đó;
b) Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 03
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;
Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
d) Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là
30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó.
Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà
người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì
thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời
hạn khiếu nại.
Lần khiếu nại tiếp theo, thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.
1. Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến
quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
2. Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có
người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Người đại diện không có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp
của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi
hành, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của
Luật này.
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện giải quyết khiếu nại
đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản
lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh giải quyết đối với
các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên
thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự cấp huyện;
c) Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự cấp huyện. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.
3. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải
quyết đối với các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ
trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi
hành.
4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ
quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp quy định tại điểm a khoản 3
Điều này. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có hiệu lực
thi hành;
b) Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại
quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều này.
5. Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối
với quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên cơ quan thi hành án
cấp quân khu.
6. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải
quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án cấp quân khu;
b) Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án cấp quân khu. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.
7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ
quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng. Quyết định giải quyết khiếu nại
của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành;
b) Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại
quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án
thuộc Bộ Quốc phòng được quy định tại điểm b khoản 6 Điều này.
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu
nại;
b) Nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu nại;
c) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
d) Được biết các bằng chứng để làm căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra
bằng chứng về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về bằng chứng đó;
đ) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi
thường thiệt hại, nếu có;
e) Được khiếu nại tiếp nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;
g) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết
khiếu nại.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người
giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và
việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực
thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy
định tại điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này.
1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại; đưa ra bằng
chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi bị khiếu nại;
b) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại.
2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định, hành vi bị khiếu nại, cung cấp các thông
tin, tài liệu liên quan khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu
lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
quy định tại điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này;
c) Bồi thường, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái
pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
1. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các
quyền sau đây:
a) Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại;
b) Tạm dừng việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự tạm ngừng việc thi hành án trong thời hạn giải
quyết khiếu nại theo quy định của Luật này, nếu xét thấy việc thi hành án sẽ
ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải
quyết khiếu nại.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu
nại;
b) Thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định
giải quyết cho người khiếu nại;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của
mình.
1. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều 140 của
Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30
ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
2. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm b khoản 2 Điều 140 của
Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ
lý đơn khiếu nại.
3. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều 140 của
Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45
ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
Trường hợp cần thiết, đối với những vụ việc có tính chất phức tạp thì
thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ
ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
4. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 của
Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30
ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
5.67 Trường hợp ở
vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn, vụ việc có tính chất phức
tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày,
kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
Người khiếu nại thực hiện việc khiếu nại bằng một trong các hình thức
sau đây:
1. Gửi đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Đơn của người khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa
chỉ của người khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người bị khiếu nại; nội dung
khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải quyết. Đơn khiếu nại phải do người
khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.
2. Trình bày trực tiếp nội dung khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại. Người có trách nhiệm tiếp nhận việc khiếu nại phải hướng
dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi lại nội dung theo quy định tại
khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.
3. Khiếu nại thông qua người đại diện. Người đại diện phải có giấy tờ
chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và việc khiếu nại phải thực hiện
theo đúng thủ tục quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại
thuộc thẩm quyền giải quyết và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 141 của
Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải
quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp người có
thẩm quyền không thụ lý đơn khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu
rõ lý do.
1. Việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ
sơ. Hồ sơ giải quyết khiếu nại gồm có:
a) Đơn khiếu nại hoặc văn bản ghi nội dung khiếu nại;
b) Văn bản giải trình của người bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định;
d) Quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số bút
lục và được lưu giữ theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý đơn khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
tiến hành xác minh, yêu cầu người bị khiếu nại giải trình, trong trường hợp cần
thiết, có thể trưng cầu giám định hoặc tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung
khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại.
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết
khiếu nại đối với khiếu nại thuộc thẩm quyền.
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần
quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định,
hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi
trái pháp luật gây ra.
9. Hướng dẫn quyền khiếu nại lần hai của đương sự.
1. Trường hợp tiếp tục khiếu nại thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm
theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và tài liệu liên quan cho
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.
2. Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại có các quyền được quy định tại Điều 145 của Luật này và có
quyền yêu cầu người giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội
dung khiếu nại; triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối
thoại khi cần thiết; xác minh; trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp
khác theo quy định của pháp luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân khi nhận được yêu cầu phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết định
giải quyết khiếu nại.
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần
quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt thực hiện quyết định, hành
vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi
trái pháp luật gây ra.
TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về
hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, cơ quan, tổ chức.
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe
dọa, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung tố
cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
1. Người bị tố cáo có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự
thật;
c) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi
danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo
sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên
quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật
của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền
quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có
trách nhiệm giải quyết.
2. Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ
quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách
nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ
việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90
ngày.
3. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải
quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
4. Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật
về khiếu nại, tố cáo.
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp
luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn
chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi hành
nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu
trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm
sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và
cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
KHÁNG NGHỊ VÀ GIẢI QUYẾT KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1. Viện kiểm sát kháng nghị đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp
và cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc
phát hiện hành vi vi phạm.
1.68 Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân đối với quyết định, hành vi về thi hành án của mình hoặc của Chấp hành
viên thuộc quyền quản lý trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng
nghị.
Trường hợp chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có văn bản trả lời kháng nghị, Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân.
2. Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không nhất trí với
kháng nghị của Viện kiểm sát thì giải quyết như sau:
a)69 Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi có quyết định, hành vi bị kháng nghị
phải báo cáo với Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
phải xem xét, trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo; văn
bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có hiệu lực thi
hành;
b) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có quyết định, hành
vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự
thuộc Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành;
c) Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu có quyết định, hành vi
bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ
Quốc phòng và Viện kiểm sát quân sự trung ương. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi
hành án thuộc Bộ Quốc phòng phải xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi
hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.
3.70 Trường hợp
xét thấy văn bản trả lời kháng nghị được quy định tại khoản 2 Điều này không có
căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tư
pháp xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự
thuộc Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét lại văn bản trả lời đã có
hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu, Thủ trưởng
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm xem xét và trả lời bằng văn bản cho Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận
được yêu cầu.
1. Đã nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai nhưng không có mặt để
thực hiện việc thi hành án mà không có lý do chính đáng.
2. Cố tình không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời của Tòa án hoặc bản án, quyết định phải thi hành ngay.
3. Không thực hiện công việc phải làm hoặc không chấm dứt thực hiện
công việc không được làm theo bản án, quyết định.
4. Có điều kiện thi hành án nhưng cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa
vụ thi hành án.
5. Tẩu tán hoặc làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi
hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản.
6. Không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên về việc cung cấp thông
tin, giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án mà không có lý
do chính đáng.
7. Sử dụng trái phép, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu
hoặc thay đổi tình trạng tài sản đã kê biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
8. Chống đối, cản trở hay xúi giục người khác chống đối, cản trở; có
lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm người thi hành công vụ trong thi hành án;
gây rối trật tự nơi thi hành án hoặc có hành vi vi phạm khác gây trở ngại cho
hoạt động thi hành án dân sự nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình
sự.
9. Phá hủy niêm phong hoặc hủy hoại tài sản đã kê biên nhưng chưa tới
mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
10. Không chấp hành quyết định của Chấp hành viên về việc khấu trừ tài
khoản, trừ vào thu nhập, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
1. Những người sau đây có quyền xử phạt vi phạm hành
chính trong thi hành án dân sự:
a) Chấp hành viên đang giải quyết việc thi hành án;
b)71 (được
bãi bỏ)
c) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
d) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan
thi hành án cấp quân khu.
2. Mức xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án
dân sự theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
1. Nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xử phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
và trình tự, thủ tục xử phạt cụ thể thực hiện theo quy định của pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính.
2. Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong xử phạt
vi phạm hành chính về thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của Luật này
và quy định khác của pháp luật có liên quan.
1. Người phải thi hành án cố ý không chấp hành bản án, quyết định;
không tự nguyện thi hành các quyết định về thi hành án thì tùy theo tính chất
và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện các quyết định về thi hành
án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính,
nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường; nếu là cá nhân thì còn có thể bị xử lý
kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án hoặc
ép buộc Chấp hành viên thi hành án trái pháp luật; phá hủy niêm phong, tiêu
dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại vật chứng, tài sản tạm giữ,
tài sản bị kê biên thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cố ý không ra quyết định thi
hành án hoặc ra quyết định về thi hành án trái pháp luật; Chấp hành viên không
thi hành đúng bản án, quyết định, trì hoãn việc thi hành án, áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án trái pháp luật; vi phạm quy chế đạo đức của Chấp hành
viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1. Thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong phạm vi cả
nước.
2. Chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong
thi hành án dân sự.
3. Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trong thi hành án dân sự.
4. Định kỳ hàng năm báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án dân sự.
1. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nước về thi hành án dân sự, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật về thi hành án dân sự;
b) Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án
dân sự;
c) Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự;
d) Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành
án dân sự; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào
tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên, Thẩm tra viên;
đ) Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra
viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự;
e)72 Thanh tra
việc sử dụng ngân sách, việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, thực hiện chế độ
chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống tổ chức
thi hành án dân sự; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý
vi phạm trong công tác thi hành án dân sự;
g) Quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương
tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự;
h) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự;
i) Tổng kết công tác thi hành án dân sự;
k) Ban hành và thực hiện chế độ thống kê về thi hành án dân sự;
l) Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự.
2. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng
Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự và thực hiện quản lý
chuyên ngành về thi hành án dân sự theo quy định của Chính phủ.
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong
quân đội:
a) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp
luật về thi hành án dân sự trong quân đội;
b) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ
thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và nhân viên làm công tác
thi hành án dân sự trong quân đội;
c) Tổng kết, báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự;
2. Thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
a) Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án cấp
quân khu; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự trong quân đội;
b) Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế; quyết định thành lập, giải thể
các cơ quan thi hành án trong quân đội; bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó
thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu; khen thưởng, kỷ luật đối với quân
nhân làm công tác thi hành án trong quân đội;
c)73 Thanh tra
việc sử dụng ngân sách, việc thực hiện chế độ chính sách và bố trí, sử dụng cán
bộ thi hành án; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi
phạm về thi hành án trong quân đội;
d) Quản lý, lập kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất,
phương tiện hoạt động thi hành án trong quân đội.
3. Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này theo quy định
của Chính phủ.
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp
luật về thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo cơ quan Công an bảo vệ cưỡng chế thi hành án, phối hợp bảo
vệ kho vật chứng của cơ quan thi hành án dân sự trong trường hợp cần thiết.
3. Chỉ đạo trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án đang
chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi hành án,
thân nhân của người phải thi hành án nộp để thi hành án.
4. Chỉ đạo cơ quan Công an có thẩm quyền phối hợp với cơ quan thi hành
án dân sự đề nghị Tòa án xét, quyết định miễn, giảm hình phạt cho những người
phải thi hành án có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
5. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân
sự.
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao:
a) Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bản pháp luật về thi
hành án dân sự;
b) Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án,
quyết định trong trường hợp cần thiết;
c) Giải quyết yêu cầu, kiến nghị và chỉ đạo Tòa án các cấp giải quyết
yêu cầu, kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn theo quy định
của pháp luật;
d) Chỉ đạo Tòa án các cấp phối hợp với các cơ quan liên quan trong thi
hành án dân sự;
đ) Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân
sự.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự
trung ương:
a) Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án,
quyết định trong trường hợp cần thiết;
b) Trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại
bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời
hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị;
c) Xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm thi hành án theo
quy định của pháp luật.
3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương
đương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương:
a) Chuyển giao bản án, quyết định, tài liệu và vật chứng có liên quan
cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này;
b) Xem xét, quyết định việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với
khoản thu nộp ngân sách nhà nước; giải quyết kháng nghị về quyết định miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước theo quy
định của Luật này;
c) Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân
sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết
tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh
trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án;
d) Giải quyết kiến nghị, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và theo
dõi kết quả xử lý sau khi Tòa án trả lời.
4. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc
toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề
tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật nhưng bị hủy.
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp
luật về thi hành án dân sự.
2. Kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện việc kiểm sát
thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
3. Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân
sự.
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan trong
việc thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội trên địa bàn quân khu và tương đương theo đề nghị của Thủ
trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.
2. Yêu cầu cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo công tác, kiểm tra,
thanh tra công tác thi hành án trên địa bàn quân khu và tương đương.
3. Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó
thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.
4. Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng
tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự.
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi
hành án dân sự trên địa bàn; giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát
sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân
sự.
2. Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có
ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề
nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
3. Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó
thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
4. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh báo cáo công tác thi
hành án dân sự ở địa phương; cho ý kiến đối với báo cáo của cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh trước khi trình Hội đồng nhân dân cùng cấp.
5. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi
hành án ở địa phương; đề nghị cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
6. Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen
thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi
phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi
hành án dân sự trên địa bàn; giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát
sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân
sự.
2. Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có
ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề
nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
3. Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó
thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
4. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện tự kiểm tra, đề nghị
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án
dân sự ở địa phương.
5. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện báo cáo công tác thi
hành án dân sự ở địa phương; cho ý kiến đối với báo cáo của cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện trước khi trình Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
6. Quyết định khen thưởng hoặc có ý kiến đề nghị cơ quan có thẩm quyền
khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi
phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự trong việc thông
báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm,
biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên
địa bàn.
1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về tài khoản của
người phải thi hành án theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân
sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của Chấp hành viên về phong
tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản; khấu trừ tiền trong tài khoản; giải tỏa việc
phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản của người phải thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành
án dân sự theo quy định của Luật này.
1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu
nhập của người phải thi hành án đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu
cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của Chấp hành viên về khấu
trừ thu nhập của người phải thi hành án để thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành
án dân sự theo quy định của Luật này.
1. Tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liên quan đến các giao
dịch đối với tài sản của người phải thi hành án đăng ký tại cơ quan đăng ký tài
sản, đăng ký giao dịch bảo đảm ngay sau khi nhận được yêu cầu của Chấp hành
viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho
người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền
được thi hành án.
3. Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử
dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án;
thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật.
1. Bảo đảm bản án, quyết định đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù
hợp với thực tế.
2. Có văn bản giải thích những nội dung mà bản án, quyết định tuyên
chưa rõ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc
của cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 30 ngày, kể
từ ngày nhận được yêu cầu.
3.77 (được
bãi bỏ)
4.78 (được
bãi bỏ)
Cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án
hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự về các việc
sau đây:
1. Giáo dục người đang chấp hành án hình sự thực hiện nghiêm túc nghĩa
vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án;
2. Cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự thông tin liên quan về người
phải thi hành nghĩa vụ về dân sự đang chấp hành án hình sự; thực hiện việc
thông báo giấy tờ về thi hành án dân sự cho người phải thi hành án đang chấp
hành án hình sự;
3. Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thu tiền thi hành án theo
quy định của Luật này;
4. Kịp thời thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về nơi cư trú của
người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù, được đặc xá, được miễn chấp
hành hình phạt tù.
1. Việc yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành
án, việc tiếp nhận và xử lý ủy thác tư pháp về thi hành án của nước ngoài trong
quá trình thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ
tư pháp.
2. Cơ quan thi hành án dân sự có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp
về dân sự trong thi hành án phải lập hồ sơ ủy thác tư pháp theo quy định của
pháp luật về tương trợ tư pháp.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này
có hiệu lực.
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết, hướng dẫn thi
hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết
khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
(Đã ký) Nguyễn Hạnh Phúc |
1 Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật thi hành án dân sự có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội
ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự số
26/2008/QH12.”
2 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 1 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
3 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 2 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
4 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 2 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
5 Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 2
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
6 Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 3
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
7 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 4 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi
hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
8 Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 5
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
9 Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 5
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
10 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 6 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
11 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 7 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
12 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 8 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
13 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 9 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
14 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 10 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
15 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 10 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
16 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 10 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
17 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 11 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
18 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 11 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
19 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 11 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
20 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản
12 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi
hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
21 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 13 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
22 Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều
1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án
dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
23 Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
24 Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
25 Cụm từ “Tòa án cấp huyện” được thay bằng cụm từ
“Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương” theo
quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
26 Cụm từ “Tòa án cấp tỉnh” được thay bằng cụm từ “Tòa
án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” theo quy định tại khoản 48
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
27 Cụm từ “Tòa án cấp huyện” được thay bằng cụm từ
“Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương” theo
quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
28 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 14 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
29 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 14 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
30 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 14 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
31 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 15 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
32 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 16 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
33 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 17 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
34 Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 18
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
35 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 19 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
36 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 20 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
37 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 21 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
38 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 22 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
39 Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
40 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 23 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
41 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 24 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
42 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 24 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
43 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 25 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
44 Cụm từ “Tòa án cấp huyện” được thay bằng cụm từ
“Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương” theo
quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
45 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 26 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
46 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 27 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
47 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 28 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
48 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 29 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
49 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 30 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
50 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 30 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
51 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 31 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
52 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 32 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
53 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 33 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
54 Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 33
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
55 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 34 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
56 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 35 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
57 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 36 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
58 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
59 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
60 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
61 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
62 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 38 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
63 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 39 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
64 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 40 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
65 Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
66 Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
67 Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 41
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
68 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 42 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
69 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 42 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
70 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 42 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
71 Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
72 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 43 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
73 Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 44 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
74 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 45 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
75 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 46 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
76 Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 47 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
77 Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
78 Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49
Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
79 Điều 2 và Điều 3 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015 quy định như sau:
“ Điều 2
1. Đối với
các việc thi hành án đã được thi hành xong trước thời điểm Luật này có hiệu lực
mà sau khi Luật này có hiệu lực đương sự còn khiếu nại thì áp dụng quy định của
Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 để giải quyết.
Đối với
các việc thi hành án đến thời điểm Luật này có hiệu lực mà chưa được thi hành
hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành; các
quyết định, hành vi của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã được thực
hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 có giá trị thi
hành.
2. Đối với
trường hợp đã trả đơn yêu cầu thi hành án trước ngày Luật này có hiệu lực thì
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi đương sự yêu cầu theo
quy định của Luật này.
3. Người có
đủ điều kiện quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 hoặc điểm a khoản 3 Điều 18
của Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12, cam kết tình nguyện làm việc từ 05
năm trở lên ở biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn thì được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp hoặc Chấp hành
viên trung cấp không qua thi tuyển.
Thời hạn
thực hiện việc bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại
khoản này là 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Chính phủ
quy định danh sách các cơ quan thi hành án dân sự thuộc địa bàn được tuyển
chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại khoản này.
4. Đối với
người phải thi hành án là người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại điểm c
mục 3 Nghị quyết số 32/1999/QH10 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị
quyết số 33/2009/QH12 của Quốc hội thì được miễn nghĩa vụ thi hành án phí trong
bản án hình sự mà người đó phải chấp hành.
Điều 3
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
2. Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết thi hành các điều, khoản
được giao trong Luật này.”

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét